Loading...
Skip to main content

NHỮNG VƯỚNG MẮC, BẤT CẬP GIAO TÀI SẢN CHO NGƯỜI QUẢN LÝ SỬ DỤNG TÀI SẢN KHI HẾT THỜI HIỆU KHỞI KIỆN

(19/05/2023 14:46)

NHỮNG VƯỚNG MẮC, BẤT CẬP GIAO TÀI SẢN CHO NGƯỜI QUẢN LÝ SỬ DỤNG TÀI SẢN KHI HẾT THỜI HIỆU KHỞI KIỆN

NHỮNG VƯỚNG MẮC, BẤT CẬP GIAO TÀI SẢN CHO NGƯỜI QUẢN LÝ SỬ DỤNG TÀI SẢN KHI HẾT THỜI HIỆU KHỞI KIỆN

Thừa kế là một chế định quan trọng trong pháp luật dân sự, và tranh chấp thừa kế rất khó khăn và phức tạp, xuyên suốt lịch sử quá trình lập pháp Việt Nam ta từ khi có Pháp lệnh Thừa kế năm 1990, các BLDS năm 1995, năm 2005 và năm 2015 đều có qui định về thừa kế. Nếu như vụ án thừa kế mà có thời điểm mở thừa kế xảy ra ở thời điểm BLDS 2015 hiện hành đang có hiệu lực thì việc xác định còn thời hiệu hay không tương đối đơn giản, tuy nhiên sẽ là phức tạp trong việc xác định thời hiệu thừa kế, khi thời điểm mở thừa kế ở trước hoặc sau Pháp lệnh thừa kế, nhưng hiện bây giờ lại có tranh chấp, do pháp luật qua các thời kì có sự quy định khác nhau và có các Nghị quyết hướng dẫn ở các thời kỳ nhất định, sẽ rất khó xác định còn hay hết thời hiệu khởi kiện. Khi xác định được vụ án hết thời hiệu khởi kiện thì việc giao di sản cho người đang quản lý sử dụng cũng gặp khó khăn vướng mắc.

  Theo quy định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự: “Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó”.

  Thực tiễn trong vụ án tranh chấp về thừa kế tài sản, trường hợp thời hiệu khởi hiệu đã hết mà có đương sự yêu cầu áp dụng thời hiệu thì khi giải quyết, có quan điểm cho rằng căn cứ Điều 623 Bộ luật Dân sự để quyết định giao phần tài sản đã hết thời hiệu khởi kiện cho người đang quản lý, sử dụng nhưng có quan điểm cho rằng không đương nhiên giao phần di sản hết thời hiệu. Do đương sự không có yêu cầu Tòa án giải quyết thì căn cứ Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự: “Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó” nên Tòa án chỉ giải quyết yêu cầu chia di sản thừa kế (không chấp nhận yêu cầu). 

  Trường hợp giao cho người thừa kế đang quản lý di sản đó thì “người thừa kế đang quản lý di sản” thì có 02 cách hiểu:

  Cách hiểu thứ 1: Người thừa kế chỉ là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất.

  Cách hiểu thứ 2: Người thừa kế là hàng thừa kế thứ nhất, thứ hai, thứ ba theo Điều 651 BLDS.

  Dẫn đến, trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản theo Điều 623 Bộ luật Dân sự thì có 02 quan điểm khác nhau:

  Quan điểm thứ 1: “Không có người thừa kế đang quản lý di sản” được hiểu là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất đều đã chết.

  Quan điểm thứ 2: “Không có người thừa kế đang quản lý di sản” được hiểu là còn người thuộc hàng thừa kế thứ nhất còn sống nhưng những người này không ở trên đất (di sản thừa kế). Tuy nhiên, người đang quản lý, sử dụng không phải là người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật Dân sự (chiếm hữu ngay tình trên 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản).

  Theo quan điểm của chúng tôi, người thừa kế đang quản lý di sản thì hiểu cách thứ 2, trường hợp không có người thừa kế theo Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì mới giao cho người đang chiếm hữu theo Điều 236 Bộ luật Dân sự.

  Ngoài ra, đối với trường hợp di sản do nhiều người quản lý theo từng thời kỳ khác nhau, khi giao cho người đang quản lý sử dụng di sản đối với trường hợp thời hiệu di sản thừa kế thì sẽ xem xét quyền và nghĩa vụ của người quản lý di sản theo từng thời kỳ khác nhau như thế nào?

  Theo Công văn số: 01/GĐ-TANDTC, ngày 25 tháng 07 năm 2016 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vấn đề về hình sự, tố tụng hình sự, dân sự, tố tụng dân sự: 2. Trường hợp nhiều người thừa kế đang cùng quản lý di sản hoặc mỗi người thừa kế quản lý di sản một giai đoạn khác nhau mà có tranh chấp về quyền sở hữu đối với di sản hết thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế thì Tòa án có được áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 623 BLDS năm 2015 để xác định di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản hay không?

  Khoản 1 Điều 623 BLDS năm 2015 quy định: “Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó...”. Người thừa kế đang quản lý di sản phải được hiểu là người thừa kế đang chiếm hữu và sử dụng di sản hợp pháp theo quy định của BLDS. Nếu có nhiều người thừa kế cùng nhau chiếm hữu và sử dụng di sản thì di sản thuộc sở hữu chung của họ. Nếu mỗi người thừa kế quản lý di sản một giai đoạn khác nhau thì Tòa án phải áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 623 BLDS năm 2015 để công nhận quyền sở hữu cho người thừa kế đang quản lý di sản; quyền và nghĩa vụ của người quản lý di sản trước đó được xem xét, đánh giá trong từng vụ việc cụ thể theo quy định của pháp luật”.   

  Tuy nhiên, hiện nay vướng mắc trong việc giải quyết quyền và nghĩa vụ của người quản lý di sản trước đó và có giải quyết trong cùng vụ án chia di sản thừa kế khi hết thời hiệu khởi kiện không? do chưa có quy định của Bộ luật Dân sự nên hiện nay có nhiều quan điểm giải quyết khác nhau và đề nghị sớm có hướng dẫn về vấn đề này để đảm bảo việc áp dụng pháp luật thống nhất.


Ý kiến bạn đọc

0 Bình luận

Ý kiến bình luận

Đổi mã xác nhận

Các tin khác

Lượt xem: 893
cdscv