Skip to main content

THAM LUẬN: Thực trạng giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài tại TAND TP Hải Phòng

(12/10/2020 13:52)

THAM LUẬN Thực trạng giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng trong những năm gần đây (2016 -2018) và kiến nghị nâng cao chất lượng công tác giải quyết loại vụ án này

THAM LUẬN

Thực trạng giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng trong những năm gần đây (2016 -2018) và kiến nghị nâng cao chất lượng công tác giải quyết loại vụ án này

Dương Văn Chính

Phó Chánh án TATP Hải Phòng

Tiếp nối đà thành công của năm 2018, hoạt động xuất nhập khẩu năm 2019 của Việt Nam tiếp tục đạt được những kết quả ấn tượng, đóng góp vào bức tranh tăng trưởng chung của nền kinh tế cả nước, qua đó góp phần quan trọng vào tăng trưởng GDP, ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định tỷ giá, kiểm soát lạm phát và cải thiện cán cân thanh toán. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, tính đến hết tháng 8/2019, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của cả nước đạt 337,22 tỷ USD, tăng 8,1% (tương ứng tăng 25,18 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó trị giá hàng hóa xuất khẩu đạt 171,3 tỷ USD, tăng 8,1% và nhập khẩu đạt 165,92 tỷ USD, tăng 8%. Trong tháng 8/2019, cán cân thương mại hàng hóa thặng dư 3,43 tỷ USD. Kết quả này góp phần đưa mức thặng dư thương mại hàng hóa của cả nước trong 8 tháng/2019 đạt thặng dư 5,37 tỷ USD.

Thành tích nêu trên là kết quả của nỗ lực, quyết tâm mạnh mẽ của Chính phủ và của các Bộ, ngành về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tạo ra những tiến bộ trong cải cách hành chính, đơn giản hóa thủ tục đầu tư, những đổi mới hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp đổi mới, sáng tạo thúc đẩy sản xuất, tạo thêm nguồn hàng cho xuất khẩu; những cải cách trong lĩnh vực xuất khẩu, nhập khẩu nhằm tiết giảm chi phí và thời gian cho doanh nghiệp. Đầu tư trong nước, được hỗ trợ bởi tâm lý lạc quan, chính sách tiền tệ, tỷ giá, lãi suất ổn định, dự báo cũng sẽ tiếp tục khởi sắc và cùng với đầu tư nước ngoài tạo ra năng lực sản xuất mới. Trong bối cảnh đó, việc Việt Nam đang thực thi tư cách thành viên Công ước của Liên hợp Quốc năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Công ước Viên 1980) là một điểm nhấn quan trọng về quá trình tham gia vào các điều ước quốc tế đa phương về thương mại. Sau Singapore, Việt Nam là thành viên thứ 2 của Cộng đồng kinh tế ASEAN gia nhập Công ước, một trong những công ước quan trọng về thương mại đa phương được áp dụng rộng rãi với 90 thành viên trên toàn thế giới và đang điều chỉnh khoảng 3/4 giao dịch thương mại hàng hóa quốc tế. Các quốc gia thành viên Công ước hiện chiếm từ 70-75% kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam, trong đó có những thị trường quan trọng như Trung Quốc, Nhật, Mỹ, Châu Âu và Hàn Quốc... Đây là bằng chứng sinh động về việc tăng cường mức độ hội nhập của Việt Nam, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về mua bán hàng hóa quốc tế và tạo lập một khung pháp lý hiện đại, công bằng và an toàn cho các doanh nghiệp Việt nam để thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.

Đối với hệ thống Tòa án Việt Nam, theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, sau khi trở thành thành viên Công ước Viên 1980, vụ án tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có áp dụng Công ước này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Việt Nam (thẩm quyền chung). Đồng thời, Tòa án Việt Nam còn có thẩm quyền xem xét, công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án của Tòa án nước ngoài, phán quyết trọng tài nước ngoài đối với các tranh chấp trong lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế.

Bên cạnh những thành công trong việc gia nhập các điều ước đa phương về thương mại quốc tế, việc hoàn thiện thể chế, pháp luật trong nước cũng đã được Việt Nam chú trọng triển khai quyết liệt, có chất lượng thông qua công cuộc cải cách tư pháp, cải cách hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh theo hướng bền vững, ổn định. Nhiều đạo luật quan trọng liên quan đến kinh doanh, thương mại, đầu tư đã được sửa đổi, bổ sung với những quy định nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc thực thi quyền kinh doanh của cá nhân, doanh nghiệp trong nước cũng như cá nhân, nhà đầu tư, kinh doanh nước ngoài.

Tuy nhiên, cũng cần khách quan nhìn nhận rằng trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế như hiện nay, công cuộc hoàn thiện thể chế, pháp luật trong kinh doanh thương mại quốc tế vẫn còn chưa đáp ứng được toàn bộ đòi hỏi, yêu cầu thực tiễn đặt ra. Trên phương diện giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế tại Tòa án Việt Nam, trong nhiều vụ án cụ thể, những hạn chế, bất cập của pháp luật trong nước đã bộc lộ khá rõ, gây không ít khó khăn cho Tòa án khi áp dụng để giải quyết, phân định trách nhiệm các bên đương sự đối với vấn đề tranh chấp.

Đối với Tòa án, nhìn chung hàng năm những vụ án kinh doanh thương mại có yếu tố nước ngoài ngày càng gia tăng về số lượng và phức tạp về tính chất, trong khi đội ngũ thẩm phán vẫn được đào tạo theo công thức chung, ít chú trọng đến tính đặc thù và những yêu cầu khác biệt khi giải quyết các vụ việc có yếu tố nước ngoài.

Thực hiện chủ trương của Đảng, hệ thống pháp luật không ngừng hoàn thiện, trong đó nhằm xây dựng nền tảng pháp lý thống nhất, đồng bộ, ổn định cho hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam cũng như hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phục vụ hội nhập quốc tế. Đánh giá khách quan, toàn diện từ thực tiễn công tác xét xử của hệ thống Tòa án nhân dân nói chung và của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng để xác định đúng đắn những vướng mắc, bất cập nhằm đưa ra giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giải quyết án kinh doanh thương mại có yếu tố nước ngoài. Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng báo cáo Tham luận “Thực trạng giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng trong những năm gần đây (2016 -2018) và kiến nghị nâng cao chất lượng công tác giải quyết vụ án”.

I. Quy định của pháp luật Việt Nam về thẩm quyền giải quyết vụ án kinh doanh thương mại có yếu tố nước ngoài của Tòa án Việt Nam

1. Quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các luật liên quan

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế của Tòa án Việt Nam chủ yếu được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS 2015) và một số luật chuyên ngành khác như Bộ luật dân sự, Luật thương mại, Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư…

BLTTDS 2015 quy định về thẩm quyền của Tòa án Việt Nam trên hai phương diện: thẩm quyền chung và thẩm quyền riêng biệt.

Về thẩm quyền chung, BLTTDS 2015 quy định theo hướng tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự trong việc lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp đã được ghi nhận tại các luật chuyên ngành, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Cụ thể, theo quy định tại khoản 1 Điều 469 BLTTDS thì Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự nói chung (các vụ việc về kinh doanh, thương mại nói riêng) được quy định tại các điều từ Điều 26 đến Điều 34 BLTTDS mà các vụ việc dân sự đó có yếu tố nước ngoài, và thẩm quyền của Tòa án các cấp, thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ, thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn đối với các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài được áp dụng theo các quy định tại các điều từ Điều 35 đến Điều 40 BLTTDS, trừ các trường hợp chương XXXV BLTTDS có quy định khác.

Như vậy, có thể thấy rằng, về nguyên tắc, những vụ việc mà đương sự được lựa chọn cả Tòa án nước ngoài để giải quyết, thì BLTTDS 2015 xác định vụ việc đó thuộc thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam. Điều này có nghĩa rằng trong một số trường hợp nhất định thì cả Tòa án Việt Nam và Tòa án nước ngoài đều có thẩm quyền giải quyết. Trong những trường hợp đó, BLTTDS có quy định Tòa án Việt Nam sẽ “nhường thẩm quyền” khi có căn cứ chứng minh Tòa án nước ngoài đã thụ lý hoặc đang giải quyết thông qua việc trả lại đơn khởi kiện hoặc đình chỉ giải quyết vụ án. Việc “nhường thẩm quyền” này cũng được áp dụng cho loại tranh chấp có yếu tố nước ngoài mà các bên đã có thỏa thuận trọng tài, trọng tài, không phân biệt trọng tài Việt Nam hay trọng tài nước ngoài đã thụ lý, đang giải quyết hoặc đã đưa ra phán quyết. Việc “nhường thẩm quyền” của Tòa án Việt Nam tại BLTTDS 2015 nhằm hạn chế hậu quả pháp lý bất lợi cho các bên tranh chấp khi một vụ án có cùng các bên đương sự, có cùng nội dung tranh chấp lại được Tòa án nhiều nước khác nhau, thậm chí cả trọng tài cùng giải quyết. Hậu quả pháp lý đó là tranh chấp sẽ không có cơ hội được giải quyết dứt điểm, bản án, phán quyết trọng tài sẽ không được thi hành khi có quá nhiều bản án, phán quyết khác nhau về trách nhiệm của các bên tranh chấp. Từ đó, ảnh hưởng đến việc kinh doanh của các bên do phải tham gia tố tụng, vừa thiệt hại về thời gian, tài chính cho doanh nghiệp vừa làm lãng phí nguồn lực của Tòa án.

Bên cạnh những quy định những trường hợp Tòa án Việt Nam có thẩm quyền chung giải quyết các vụ việc dân sự nói chung (vụ việc về kinh doanh, thương mại nói riêng) có yếu tố nước ngoài, BLTTDS 2015 (Điều 470) quy định rõ những vụ việc dân sự (trong đó có vụ việc về kinh doanh, thương mại nói riêng) thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam, tức là Tòa án Việt Nam có quyền giải quyết các vụ việc dân sự (trong đó có vụ việc về kinh doanh, thương mại nói riêng) có yếu tố nước ngoài không phụ thuộc vào Tòa án nước ngoài đã thụ lý, giải quyết; hay nói cách khác, đối với những vụ việc dân sự này, Tòa án Việt Nam không dành quyền giải quyết cho Tòa án nước ngoài. Trong đó, BLTTDS 2015 có quy định mới về việc Tòa án Việt Nam có thẩm quyền riêng biệt đối với tranh chấp, bao gồm tranh chấp thương mại quốc tế nếu các bên có thỏa thuận lựa chọn Tòa án để giải quyết tranh chấp đó. Đây là quy định mới được bổ sung vào BLTTDS 2015 sau khi tham khảo thông lệ quốc tế với mục đích xác định thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho các bên đương sự trong việc lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp.

Bên cạnh các quy định tại các Điều 469 và 470 BLTTDS, các văn bản pháp luật chuyên ngành cũng có các quy định xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp vụ việc có yếu tố nước ngoài của Tòa án Việt Nam.

Ví dụ: đối với tranh chấp hàng hải có yếu tố nước ngoài, Điều 339 của Bộ luật hàng hải Việt Nam năm 2015 quy định: tranh chấp hàng hải giữa các bên liên quan đến tranh chấp hàng hải đều là tổ chức, cá nhân nước ngoài cũng có thể được giải quyết tại Tòa án Việt Nam nếu căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ giữa các bên liên quan đến tranh chấp hàng hải theo pháp luật Việt Nam hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở Việt Nam.

Đối với hoạt động đầu tư có yếu tố nước ngoài, Điều 14 Luật Đầu tư năm 2014 phân định rõ ràng các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp loại này. Cụ thể, đối với tranh chấp giữa các nhà đầu tư trong nước, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hoặc giữa nhà đầu tư trong nước, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài với cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam, thì khoản 2 Điều 14 Luật Đầu tư năm 2014 quy định cho phép các bên tranh chấp có quyền thỏa thuận lựa chọn Trọng tài Việt Nam để giải quyết; trong trường hợp không có thỏa thuận này, một trong các bên có quyền yêu cầu Toà án Việt Nam giải quyết. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 3 Điều 14 nêu trên nếu tranh chấp phát sinh giữa các nhà đầu tư trong đó có ít nhất một bên là nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ chức kinh tế quy định tại khoản 1 Điều 23 của Luật này được giải quyết thông qua một trong những cơ quan, tổ chức sau đây: a) Toà án Việt Nam; b) Trọng tài Việt Nam; c) Trọng tài nước ngoài; d) Trọng tài quốc tế; đ) Trọng tài do các bên tranh chấp thoả thuận thành lập.

Đối với tranh chấp phát sinh từ hợp đồng vận chuyển hàng không quốc tế hành khách, hành lý, hàng hoá, Điều 172 của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định: “1. Toà án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng vận chuyển hàng không quốc tế hành khách, hành lý, hàng hoá theo lựa chọn của người khởi kiện trong các trường hợp sau đây: a) Người vận chuyển có trụ sở chính hoặc địa điểm kinh doanh chính tại Việt Nam; b) Người vận chuyển có địa điểm kinh doanh và giao kết hợp đồng vận chuyển tại Việt Nam; c) Việt Nam là địa điểm đến của hành trình vận chuyển.”.

2. Phân định thẩm quyền của Tòa án và Trọng tài trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại

  Theo quy định tại Điều 6 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (Luật TTTM 2010) trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được. Cùng với đó, khoản 1 Điều 472 BLTTDS 2015 vừa có quy định tương tự; mặt khác, có quy định bổ sung theo hướng không chỉ từ chối thụ lý mà còn phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án nếu phát hiện thấy trọng tài đã thụ lý, đang giải quyết hoặc đã ra phán quyết.

Điều 18 Luật TTTM 2010 quy định thỏa thuận trọng tài vô hiệu thuộc các trường hợp sau:

1. Tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài quy định tại Điều 2 của Luật này;

2. Người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật;

3. Người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự;

4. Hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16 của Luật này;

5. Một trong các bên bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài đó là vô hiệu;

6. Thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật.

Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn: Tranh chấp có thỏa thuận trọng tài nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác, gồm: a) Có quyết định của Tòa án huỷ phán quyết trọng tài, hủy quyết định của Hội đồng trọng tài về việc công nhận sự thỏa thuận của các bên; b) Có quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp của Hội đồng trọng tài, Trung tâm trọng tài quy định tại khoản 1 Điều 43 các điểm a, b, d và đ khoản 1 Điều 59 Luật TTTM; c) Tranh chấp thuộc trường hợp quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 5 Điều 4 Nghị quyết này.

Tại điểm 4 Điều 2 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 quy định trường hợp các bên vừa có thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài, vừa có thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng Tòa án mà các bên không có thỏa thuận lại hoặc thỏa thuận mới về cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp và không thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 2 trên mà phát sinh tranh chấp thì xử lý như sau: a) Trường hợp người khởi kiện yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp trước khi yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hoặc yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp khi Tòa án chưa thụ lý vụ án quy định tại điểm b khoản 4 Điều này thì Tòa án căn cứ quy định tại Điều 6 Luật TTTM để từ chối thụ lý, giải quyết. Trong trường hợp này, khi nhận được đơn khởi kiện Tòa án phải trả lại đơn khởi kiện, nếu đã thụ lý vụ án thì căn cứ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 192 BLTTDS ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án vì không thuộc thẩm quyền của Tòa án, trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu gửi kèm theo đơn khởi kiện; b) Trường hợp người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp, thì ngay sau khi nhận được đơn khởi kiện, Tòa án phải xác định một trong các bên đã yêu cầu Trọng tài giải quyết hay chưa. Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện mà Tòa án xác định người bị kiện, người khởi kiện đã yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, trường hợp người bị kiện, người khởi kiện chưa yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp thì Tòa án xem xét thụ lý giải quyết theo thủ tục chung. Trường hợp Tòa án đã thụ lý vụ án mà phát hiện tranh chấp đã có yêu cầu Trọng tài giải quyết trước thời điểm Tòa án thụ lý vụ án thì Tòa án căn cứ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 192 BLTTDS ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án, trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu gửi kèm theo đơn khởi kiện.

Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về “Thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được” quy định tại Điều 6 Luật TTTM là thỏa thuận trọng tài thuộc một trong các trường hợp sau đây:

1. Các bên đã có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài cụ thể nhưng Trung tâm trọng tài này đã chấm dứt hoạt động mà không có tổ chức trọng tài kế thừa, và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trung tâm trọng tài khác để giải quyết tranh chấp;

2. Các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc, nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà Trọng tài viên không thể tham gia giải quyết tranh chấp, hoặc Trung tâm trọng tài, Tòa án không thể tìm được Trọng tài viên như các bên thỏa thuận và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế;

3. Các bên đã có thỏa thuận cụ thể về việc lựa chọn Trọng tài viên trọng tài vụ việc, nhưng tại thời điểm xảy ra tranh chấp, Trọng tài viên từ chối việc được chỉ định hoặc Trung tâm trọng tài từ chối việc chỉ định Trọng tài viên và các bên không thỏa thuận được việc lựa chọn Trọng tài viên khác để thay thế;

4. Các bên có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại một Trung tâm trọng tài nhưng lại thỏa thuận áp dụng Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài khác với Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm trọng tài đã thỏa thuận và điều lệ của Trung tâm trọng tài do các bên lựa chọn để giải quyết tranh chấp không cho phép áp dụng Quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài khác và các bên không thỏa thuận được về việc lựa chọn Quy tắc tố tụng trọng tài thay thế;

5. Nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và người tiêu dùng có điều khoản về thỏa thuận trọng tài được ghi nhận trong các điều kiện chung về cung cấp hàng hoá, dịch vụ do nhà cung cấp soạn sẵn quy định tại Điều 17 Luật TTTM nhưng khi phát sinh tranh chấp, người tiêu dùng không đồng ý lựa chọn Trọng tài giải quyết tranh chấp.

II. Thực tiễn giải quyết các vụ án kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng

Tình hình thụ lý, kết quả giải quyết

Từ 01/7/2016 đến nay, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã thụ lý 803 vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài. Đến nay đã giải quyết xét xử được 683 vụ việc, đạt tỷ lệ 85%. Trong số các vụ việc đã giải quyết xét xử, thì số lượng các vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là 554 vụ việc chiếm 81%. Số vụ việc có yếu tố nước ngoài gia tăng ngày càng nhiều. Cụ thể qua từng năm như sau: Từ 1/7/2016 đến tháng 12/2016 giải quyết 97 vụ việc. Trong đó vụ việc dân sự là 08 vụ việc; hôn nhân gia đình: 80 vụ việc; kinh doanh thương mại: 09 vụ việc. Từ 01/01/2017 đến hết 2017 giải quyết 226 vụ việc. Trong đó: vụ việc dân sự là 18; hôn nhân gia đình: 189 vụ việc; kinh doanh thương mại: 19 vụ việc. Từ 01/01/2018 đến 30/12/2018 giải quyết 247 vụ việc. Trong đó: vụ việc dân sự là 29; hôn nhân gia đình: 198 vụ việc; kinh doanh thương mại: 20 vụ việc. Từ 01/01/2019 đến nay giải quyết 113 vụ việc. Trong đó: vụ việc dân sự là 10; hôn nhân gia đình: 90 vụ việc; kinh doanh thương mại: 13 vụ việc.

Đối với các vụ việc kinh doanh thương mại: Từ ngày 01/7/2016 đến ngày 30/9/2019, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng đã thụ lý, giải quyết 61 vụ án kinh doanh thương mại có yếu tố nước ngoài. Số lượng các vụ án nói trên có yếu tố nước ngoài tăng về số lượng qua từng năm và nội dung tranh chấp ngày càng phức tạp do trong những năm vừa qua, thành phố Hải Phòng có nhiều chính sách thu hút đầu tư nước ngoài, nhiều khu Công nghiệp của các nhà đầu tư nước ngoài được thành lập trên địa bàn thành phố… nên số người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài và số lượng người nước ngoài sinh sống ở Việt Nam ngày càng nhiều. Hầu hết các vụ án kinh doanh thương mại có yếu tố nước ngoài thì đương sự đã gửi các văn bản, giấy tờ về cho Tòa án được hợp pháp hóa lãnh sự, đồng thời có ủy quyền cho chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam tham gia tố tụng. Số lượng các vụ án kinh doanh thương mại phải ủy thác sang nước ngoài chiếm số lượng ít, tuy nhiên khi phải ủy thác thì cũng gặp những khó khăn như các vụ án dân sự (không có địa chỉ của đương sự để ủy thác sang nước ngoài, hoặc có những trường hợp đương sự cung cấp được địa chỉ cho Tòa án nhưng việc ủy thác lại không có kết quả do địa chỉ không đúng hoặc đương sự đã có địa chỉ mới, dấu địa chỉ, đương sự không hợp tác từ chối nhận văn bản với lý do không hiểu bản dịch, chi phí ủy thác ở một số nước cao, tốn kém, đến thời hạn xét xử nhưng chưa nhận được kết quả ủy thác…).

2. Vấn đề áp dụng pháp luật trong nước, tập quán, quy tắc, pháp luật thương mại quốc tế để giải quyết vụ án

a) Áp dụng pháp luật thương mại:

Hệ thống pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ hợp đồng đảm bảo quyền tự do hợp đồng, tự do kinh doanh bởi nhiều luật chuyên ngành như: Luật Đầu tư năm 2014; Luật Đầu tư công năm 2014; Luật Đấu thầu; Luật Xây dựng; Bộ luật Hàng hải năm 2015; Luật Thương mại; Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2010; Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Nhà ở, Luật Công chứng, Luật Kinh doanh bất động sản… và các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành (Ví dụ: Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư năm 2014, Nghị định số 73/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 hướng dẫn Luật kinh doanh bảo hiểm và Luật kinh doanh bảo hiểm sửa đổi; Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2014 của Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng; Nghị định số 163/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 quy định về kinh doanh dịch vụ logistics; Nghị định số 96/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015 quy định chi tiết một số điều của Luật Doanh nghiệp và hệ thống các Thông tư hướng dẫn của các Bộ, ngành liên quan…).

Việc điều chỉnh quan hệ hợp đồng bởi nhiều văn bản pháp luật do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính Phủ, các Bộ, ngành trung ương trên nhiều lĩnh vực, hoạt động kinh doanh, thương mại, dân sự tạo hành lang pháp lý thực hiện quyền, nghĩa vụ của các bên giao kết, chủ động và thống nhất áp dụng pháp luật của Tòa án, Trọng tài thương mại khi thụ lý, giải quyết tranh chấp.

Ngoài ra, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao công bố nhiều án lệ về dân sự, kinh doanh thương mại về tranh chấp hợp đồng cũng tạo cơ chế giải quyết một số vướng mắc đối với quy định pháp luật chưa được giải thích, quy định thiếu thống nhất về hợp đồng.

b) Áp dụng Incoterm (bao gồm Incoterm 2010)

Incoterm là các điều khoản thương mại được quốc tế công nhận, được Phòng Thương mại Quốc tế (ICC) xuất bản và được sử dụng rộng rãi trong các hợp đồng mua bán quốc tế. Những điều khoản này cũng được sử dụng ngày càng nhiều trong thương mại nội địa. Bộ qui tắc Incoterms được đưa vào trong hợp đồng mua bán bằng cách dẫn chiếu (VD: “FCA 38 Cours Albert 1er, Paris, France Incoterms® 2010”). Incoterm không ngừng được điều chỉnh, sửa đổi cho phù hợp với những biến đổi gần đây trong vận tải và thương mại quốc tế. Incoterms 2010 là bản sửa đổi mới nhất và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/1/2011cho đến nay.

Cùng với thời gian, thương mại quốc tế (TMQT) ngày càng phát triển. Trước kia, các thương nhân phải tự mang hàng hóa từ nơi này đến nơi khác, mất hàng tháng để thực hiện các giao dịch mua bán, lợi nhuận thu được nhiều nhưng rủi ro cũng không ít. Ngày nay, nhờ sự phát triển của các phương tiện giao thông vận tải, thông tin liên lạc, sự hình thành các khối nước thương mại chung, các trung gian thương mại, tài chính.v.v. thì người mua và người bán không cần gặp nhau trực tiếp mà vẫn mua/bán được hàng hóa, dịch vụ. Chính sự phát triển này đòi hỏi phải có những quy tắc được thừa nhận rộng rãi để điều chỉnh những quan hệ ngày càng phức tạp trong TMQT.

Những điểm cần lưu ý về sử dụng Incoterms:

- Incoterms là tập quán thương mại, không có tính chất bắt buộc. Chỉ khi nào các bên tham gia hợp đồng quy định sử dụng trong hợp đồng mua bán hàng hóa thì nó mới trở thành điều kiện bắt buộc, ràng buộc nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên tham gia hợp đồng.

   - Các phiên bản Incoterms được sửa đổi không phủ nhận tính hiệu lực của các phiên bản trước. Chính vì vậy, mà khi sử dụng thì cần phải ghi rõ áp dụng Incoterms phiên bản nào để đối chiếu, để xác định trách nhiệm của các bên.

- Incoterms chỉ giải thích những vấn đề chung nhất có liên quan đến việc giao hàng, như việc bên nào có nghĩa vụ thuê phương tiện vận tải hoặc mua bảo hiểm, khi nào người bán giao hàng cho người mua và phân chia chi phí cho các bên ra sao. Song các vấn đề khác như giá cả, phương thức thanh toán, việc bốc, xếp, dỡ hàng hóa, lưu kho, lưu bãi thì tùy theo vào thỏa thuận của các bên thể hiện trong hợp đồng hoặc theo tập quán cảng, tập quán ngành kinh doanh, tập quán của nước sở tại của các bên tham gia mua bán.

- Hai bên mua bán có thể tăng giảm trách nhiệm, nghĩa vụ cho nhau tùy thuộc vào vị thế mạnh (yếu) trong giao dịch nhưng không được làm thay đổi bản chất điều kiện cơ sở giao hàng. Việc tăng, giảm trách nhiệm, nghĩa vụ (nếu có) cần phải được cụ thể hóa trong hợp đồng mua bán.

-  Incoterms chỉ xác định thời điểm di chuyển rủi ro hàng hóa từ người mua đến người bán chứ không xác định thời đim chuyển quyền sở hữu hàng hóa, cũng như hậu quả của việc vi phạm hợp đồng. Những vấn đề này thường được quy định trong các điều khoản khác của hợp đồng hoặc trong luật điều chỉnh hợp đồng. Các bên cũng cần biết rằng luật địa phương được áp dụng có thể làm mất hiệu lực bất cứ nội dung nào của hợp đồng, kể cả điều kiện Incoterms đã được lựa chọn trước đó.

- Tùy thuộc vào việc hàng hóa được chuyên chở bằng phương tiện nào (đường không, đường biển, đường bộ, v.v), loại hình nào (hàng rời, container, sà lan, v.v) thì có những nhóm điều kiện tương ứng.

Một số hình thức về sử dụng Incoterms thường được áp dụng như: EXW - Giao tại xưởng, FCA – Giao hàng cho người chuyên chở, CPT - Cước phí trả tới, CIP - Cước phí và bảo hiểm trả tới, DAT - Giao tại bến, DAP - Giao tại nơi đến, DDP - Giao hàng đã nộp thuế…

EXW – Giao tại xưởng:

Người bán giao hàng khi đặt hàng hóa dưới quyền định đoạt của người mua tại cở sở của người bán hoặc tại một địa điểm chỉ định (ví dụ xưởng, nhà máy, kho, v.v…). Người bán không cần xếp hàng lên phương tiện tiếp nhận cũng như không cần làm thủ tục thông quan xuất khẩu (nếu có).

Các bên cần quy định rõ địa điểm tại nơi giao hàng chỉ định vì chi phí và rủi ro đến điểm đó do người bán chịu. Người mua chịu toàn bộ chi phí và rủi ro liên quan đến việc nhận hàng từ điểm quy định, nếu có, tại nơi giao hàng chỉ định.

FCA – Giao hàng cho người chuyên chở:

Người bán giao hàng cho người chuyên chở hoặc một người khác do người mua chỉ định, tại cở sở của người bán hoặc tại địa điểm chỉ định khác. Các bên cần phải quy định rõ địa điểm tại nơi được chọn để giao hàng, vì rủi ro được chuyển cho người mua tại địa điểm đó.

Điều kiện FCA đòi hỏi người bán phải thông quan xuất khẩu, nếu có. Tuy vậy, người bán không có nghĩa vụ thông quan nhập khẩu, trả thuế nhập khẩu hoặc trả chi phí làm thủ tục thông quan nhập khẩu.

CPT – Cước phí trả tới:

Người bán giao hàng đã thông quan xuất khẩu cho người mua tại nơi đến thoả thuận ở nước người mua. Người bán phải thuê phương tiện vận tải/trả cước phí để chở hàng đến nơi đến quy định. Nhưng mọi rủi ro liên quan đến hàng hoá đã được chuyển từ người bán sang người mua kể từ khi hàng được giao cho người chuyên chở.

Nghĩa vụ, trách nhiệm của người mua và người bán được phân chia cụ thể như sau: Người bán thông quan xuất khẩu, người mua thông quan nhập khẩu; Người bán thuê phương tiện vận tải; Địa điểm giao hàng ở nước người mua.

CIP – Cước phí và bảo hiểm trả tới:

Người bán phải: Ký hợp đồng chuyên chở và trả cước đến địa điểm đích quy định; Lấy giấy phép xuất khẩu, nộp thuế và lệ phí xuất khẩu; Giao hàng cho người vận tải đầu tiên; Ký hợp đồng bảo hiểm cho hàng và trả phí bảo hiểm; Cung cấp cho người mua hoá đơn, chứng từ vận tải thường lệ và đơn bảo hiểm hoặc bằng chứng khác để thể hiện hàng đã được bảo hiểm.

Người mua phải: Nhận hàng khi hàng được giao cho người vận tải đầu tiên, khi hoá đơn, đơn bảo hiểm và chứng từ vận tải được giao cho mình; Chịu rủi ro và tổn thất kể từ khi hàng được giao cho người vận tải đầu tiên.

DAT – Giao tại bến:

Người bán giao hàng, khi hàng hóa sau khi đã dỡ khỏi phương tiện vận tải, được đặt dưới sự định đoạt của người mua tại một bến chỉ định, tại cảng hoặc tại nơi đến chỉ định.

Điều kiện DAT yêu cầu người bán làm thủ tục thông quan xuất khẩu hàng hóa, nếu cần. Tuy vậy, người bán không có nghĩa vụ làm thủ tục nhập khẩu hay trả bất kỳ khoản thuế nhập khẩu nào hay tiến hành các thủ tục thông quan nhập khẩu.

DAP – Giao tại nơi đến:

Người bán giao hàng khi hàng hóa được đặt dưới quyền định đoạt của người mua trên phương tiện vận tải, sẵn sàng dỡ tại nơi đến chỉ định. Người bán chịu mọi rủi ro liên quan để đưa hàng hóa đến nơi đến chỉ định.

Điều kiện DAP yêu cầu người bán làm thủ tục thông quan xuất khẩu, nếu có. Tuy vậy, người bán không có nghĩa vụ làm thủ tục thông quan nhập khẩu, trả thuế nhập khẩu hoặc làm các thủ tục thông quan nhập khẩu.

DDP – Giao hàng đã nộp thuế:

Giao đã trả thuế hoặc Giao hàng đã thông quan nhập khẩu có nghĩa là người bán giao hàng khi hàng hóa được đặt dưới quyền định đoạt của người mua, đã thông quan nhập khẩu, trên phương tiện vận tải chở đến và đã sẵn sàng để dỡ hàng tại nơi đến quy định.

Người bán chịu mọi chi phí và rủi ro liên quan để đưa hàng hóa tới nơi đến và có nghĩa vụ thông quan cho hàng hóa, không chỉ thông quan xuất khẩu mà còn thông quan nhập khẩu, trả các khoản thuế, phí và thực hiện các thủ tục cho thông quan xuất và nhập khẩu.

c) Áp dụng Công ước Viên 1980

Tính đến năm nay (2019) đã có 90 quốc gia trở thành thành viên chính thức của công ước này, trong đó có Việt Nam. Ngày 01/01/2017, Công ước Viên 1980 chính thức có hiệu lực tại Việt Nam và có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động mua bán hàng hóa giữa thương nhân Việt Nam với các đối tác tới từ các quốc gia thành viên khác.

Việc gia nhập Công ước Viên sẽ giúp tăng cường mức độ của Việt Nam tham gia vào các điều ước quốc tế đa phương về thương mại, từ đó cũng tăng cường mức độ hội nhập của Việt Nam. Điều này sẽ giúp các doanh nghiệp Việt Nam tiết kiệm chi phí và thời gian đàm phán để thống nhất lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng. Giảm bớt các khó khăn và chi phí có thể phát sinh do luật được lựa chọn để áp dụng cho hợp đồng là luật nước ngoài. Nếu phải áp dụng luật nước ngoài, thương nhân Việt Nam có thể mất thời gian để tự mình tìm hiểu hoặc mất chi phí thuê tư vấn luật để tìm hiểu luật nước ngoài đó. Ngoài ra, luôn tiềm ẩn những rủi ro pháp lý cho thương nhân Việt Nam do thiếu sự hiểu biết đầy đủ về luật nước ngoài cũng như cách áp dụng luật nước ngoài. Trong khi đó, chi phí và thời gian để tìm hiểu CISG là ít hơn rất nhiều so với luật quốc gia nước ngoài, vì các doanh nghiệp/luật sư tư vấn có thể tham khảo dễ dàng (và miễn phí) các hệ thống cơ sở dữ liệu vô cùng phong phú về CISG. Tránh được việc phải sử dụng đến quy phạm xung đột trong tư pháp quốc tế để xác định luật áp dụng cho hợp đồng. Khi các bên trong hợp đồng không lựa chọn, hoặc không thể lựa chọn được luật áp dụng cho hợp đồng, cơ quan giải quyết tranh chấp (tòa án, trọng tài) dẫn chiếu đến quy phạm luật xung đột để chọn một nguồn luật nhằm giải quyết tranh chấp có liên quan. Quy phạm luật xung đột thường là khác nhau ở các quốc gia, vì thế, việc áp dụng các quy phạm này thường dẫn đến tính khó dự đoán trước được về nguồn luật áp dụng.

Theo quy định của CISG và thực tiễn hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, có 04 trường hợp CISG được áp dụng: Khi các bên có địa điểm kinh doanh tại các quốc gia là thành viên của CISG (theo Điều 1.1.a CISG); hoặc khi theo các quy tắc tư pháp quốc tế thì luật được áp dụng là luật của nước thành viên CISG (theo Điều 1.1.b CISG); hoặc khi các bên lựa chọn CISG là luật áp dụng cho hợp đồng của mình; hoặc khi cơ quan giải quyết tranh chấp lựa chọn CISG làm luật áp dụng. Ví dụ, hợp đồng giữa doanh nghiệp Việt Nam với bên còn lại có trụ sở ở Pháp, Đức, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Canada, Australia… được điều chỉnh bởi CISG, trừ khi các bên trong hợp đồng thống nhất loại trừ việc áp dụng CISG...

Điều 1.1.b quy định về các trường hợp áp dụng CISG ngay cả khi một bên hoặc cả hai bên trong hợp đồng không có địa điểm kinh doanh tại các quốc gia thành viên, theo đó, CISG được áp dụng “khi theo các quy tắc tư pháp quốc tế thì luật được áp dụng là luật của quốc gia thành viên Công ước”. Đây được gọi là trường hợp áp dụng “gián tiếp” Công ước và mở rộng đáng kể phạm vi áp dụng của Công ước này đối với các hợp đồng được ký giữa một bên có trụ sở tại quốc gia thành viên Công ước còn bên kia thì không. Thực tiễn giải quyết tranh chấp cho thấy khuynh hướng ngày càng được thừa nhận rộng rãi hơn và một sự loại trừ CISG cần phải được thể hiện một cách rõ ràng...

3. Một số thuận lợi và khó khăn trong công tác giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài

3.1. Thuận lợi

Hiện nay việc ủy thác tư pháp ra nước ngoài để tống đạt, thu thập chứng cứ được thực hiện theo Luật tương trợ tư pháp, Bộ luật tố tụng dân sự, 17 điều ước quốc tế song phương về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự và Công ước La Hay về tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại (Công ước tống đạt giấy tờ). Các quy định của điều ước quốc tế nêu trên được hướng dẫn chi tiết tại Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19/10/2016 của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và Tòa án nhân dân tối cao quy định về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự. Bên cạnh đó, Tòa án nhân dân tối cao cũng ban hành một số công văn hướng dẫn nghiệp vụ như: Công văn số 33/TANDTC-HTQT ngày 21/02/2017, Công văn số 272/TANDTC-HTQT ngày 24/11/2017 và Công văn số 297/TANDTC-HTQT ngày 20/12/2017.

Do đó, về cơ bản, việc thực hiện ủy thác tư pháp của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng nói riêng và các Tòa án cấp tỉnh khác đã đi vào nề nếp, có chất lượng. Tòa án nhân dân tối cao đã tiến hành hướng dẫn các Tòa án này về nghiệp vụ ủy thác tư pháp thông qua nhiều hình thức khác nhau như: Tập huấn nghiệp vụ thông qua Hội nghị tập huấn hoặc trực tiếp thông qua tất cả các điểm cầu truyền hình của các Tòa án cấp huyện, cấp tỉnh, cấp cao hoặc trao đổi công văn, hướng dẫn trực tiếp qua điện thoại, cung cấp thông tin qua hộp thư điện tử…

Theo số liệu của Tòa án nhân dân tối cao thì: Từ ngày 01/10/2017 đến ngày 31/8/2018, các Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao đã gửi ra nước ngoài 2069 hồ sơ ủy thác tư pháp để giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động. Trong đó, có 94 yêu cầu (chiếm 4%) được gửi theo kênh ngoại giao; 1975 yêu cầu (chiếm 96%) được gửi theo kênh điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (1291 yêu cầu theo kênh Công ước tống đạt giấy tờ và 684 yêu cầu theo kênh hiệp định tương trợ tư pháp). Số lượng các yêu cầu gửi cho đương sự ở nước ngoài trong các vụ án dân sự là chiếm gần 52%; vụ án hôn nhân và gia đình chiếm gần 46%; vụ án kinh doanh, thương mại và lao động chiếm 2%. Các hồ sơ ủy thác tư pháp chủ yếu được gửi đến các nước, vùng lãnh thổ thành viên hiệp định, thỏa thuận tương trợ tư pháp với Việt Nam như: Trung Quốc, Đài Loan; các nước thành viên của Công ước tống đạt giấy tờ, bao gồm: Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Úc, Ca-na-đa. Về kết quả, các Tòa án đã nhận được 1158 thông báo kết quả thực hiện, trên tổng số 2069 yêu cầu ủy thác tư pháp, đạt tỷ lệ 56%. Trong đó, có 11/94 yêu cầu gửi theo kênh ngoại giao; 736/1291 yêu cầu gửi theo kênh Công ước tống đạt giấy tờ và 411/684 yêu cầu gửi theo kênh hiệp định tương trợ tư pháp được thực hiện.

Với kết quả nêu trên, các Tòa án cấp tỉnh có thêm cơ sở pháp lý vững chắc để xử lý, giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành.

3.2. Một số khó khăn

Đối với việc giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, bao gồm tranh chấp thương mại quốc tế, thì hai thủ tục quan trọng nhất mà Tòa án phải thực hiện là tống đạt văn bản tố tụng và thu thập chứng cứ trong những trường hợp Bộ luật tố tụng dân sự có quy định. Hiện nay, để tạo điều kiện thuận lợi cho việc tống đạt và thu thập chứng cứ, Việt Nam đã ký 17 điều ước quốc tế song phương về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự và gia nhập một Công ước đa phương của Hội nghị La Hay về Tư pháp quốc tế - Công ước La Hay về tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại (Công ước tống đạt giấy tờ). Đối với Công ước La Hay về thu thập chứng cứ ở nước ngoài trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại (Công ước thu thập chứng cứ), thì Việt Nam đang trong quá trình chuẩn bị gia nhập. Do đó, dẫn đến tình trạng trong một vụ án, thì Tòa án phải tiến hành việc tống đạt và thu thập chứng cứ theo hai kênh khác nhau: Tòa án tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự ở nước ngoài theo Công ước tống đạt giấy tờ nhưng khi thu thập chứng cứ thì Tòa án phải gửi yêu cầu thu thập chứng cứ theo kênh ngoại giao – kênh qua nhiều cơ quan trung gian, mất nhiều thời gian chờ đợi để có kết quả và việc có kết quả hay không phụ thuộc vào thiện chí của nước được Tòa án Việt Nam thu thập chứng cứ.

- Trên thực tế, có vụ án phức tạp, cần đợi kết quả xác minh nhưng khi đến ngày mở phiên tòa như trong thông báo thụ lý, Toà án vẫn chưa có đủ căn cứ để giải quyết vụ án. Trong trường hợp này còn có ý kiến khác nhau về việc Toà án vẫn mở phiên toà hay ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án. Về trường hợp này, theo quy định của Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự, thì Tòa án có quyền mở phiên tòa để xét xử nhưng trên thực tế Thẩm phán vẫn còn băn khoăn vì sau này đương sự hoặc Viện kiểm sát có thể kháng cáo, kháng nghị với lý do việc thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, kết quả giải quyết cuối cùng chưa toàn diện.

- Bên cạnh đó, có trường hợp sau khi Toà án đã hoàn thiện hồ sơ vụ án, đã mở phiên họp hoà giải chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử thì đương sự đề xuất đưa doanh nghiệp hoặc nhà đầu tư ở nước ngoài vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền và nghĩa vụ liên quan. Trong trường hợp này, có hai loại ý kiến khác nhau. Loại ý kiến thứ nhất cho rằng đối với vụ án này Tòa án giữ nguyên thời hạn giải quyết, thời hạn mở phiên tòa nên chỉ cần tống đạt thông báo đưa đương sự nêu trên tham gia tố tụng và yêu cầu họ cung cấp lời khai, tài liệu chứng cứ theo thủ tục chung. Ngược lại, loại ý kiến thứ hai cho rằng, trong trường hợp này phải thay đổi thời gian mở phiên tòa để bảo đảm quyền tố tụng cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

- Khó khăn về việc dịch văn bản tố tụng ra thứ tiếng của nước nơi đương sự cư trú hoặc có trụ sở làm việc. Theo quy định của Luật tương trợ tư pháp, Công ước tống đạt giấy tờ, điều ước quốc tế song phương về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự mà Việt Nam là thành viên thì văn bản tố tụng của Tòa án Việt Nam phải được dịch ra thứ tiếng chính thức hoặc thứ tiếng mà nước được Tòa án Việt Nam yêu cầu ủy thác tư pháp chấp nhận. Tuy nhiên, có một số trường hợp văn bản tố tụng của Tòa án đã được tổ chức có thẩm quyền dịch thuật thực hiện dịch theo đúng quy định nêu trên nhưng vẫn bị nước ngoài (Séc, Tây Ban Nha…) trả lại với lý do chất lượng dịch thuật không bảo đảm. Từ đó, dẫn đến khó khăn cho Tòa án trong việc cấp, tống đạt, yêu cầu đương sự thanh toán chi phí dịch thuật cũng như làm cho thời gian giải quyết vụ án bị kéo dài do mỗi lần thực hiện ủy thác tư pháp mất từ 04 đến 06 tháng trở lên.

4.3. Khó khăn về áp dụng pháp luật

Đánh giá khách quan từ thực tiễn công tác xét xử vẫn còn tồn tại những hạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luật về hợp đồng, cụ thể:

Thứ nhất, theo khoản 2 Điều 27 Luật Thương mại năm 2005 thì việc mua bán hàng hoá quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương. Tuy nhiên, quy định này lại chưa phù hợp quy định về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo Công ước Viên năm 1980. Cụ thể, theo quy định của Công ước này thì việc chứng minh sự tồn tại của hợp đồng không bị giới hạn; người chứng minh có thể sử dụng nhiều hình thức khác nhau, bao gồm trường hợp sử dụng người làm chứng để chứng minh về sự tồn tại hợp đồng. Trong trường hợp này, sự khác biệt, không tương thích của Luật thương mại năm 2005 với Công ước Viên năm 1980 có thể làm khó khăn cho doanh nghiệp khi khởi kiện đối tác nước ngoài tại Tòa án Việt Nam để giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa mà có người làm chứng là bên môi giới. Theo đó, doanh nghiệp có thể cho rằng Tòa án Việt Nam sẽ áp dụng quy định của Luật thương mại năm 2005 thay vì áp dụng Công ước Viên năm 1980 khi giải quyết làm bất lợi cho nguyên đơn.

Thứ hai, có vụ án thương mại quốc tế các đương sự thỏa thuận được một số vấn đề và cần sự công nhận của Tòa án để các bên đương sự thi hành trước nhằm phục vụ kịp thời việc lưu thông hoạt động kinh doanh của các bên đương sự. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng dân sự lại quy định Tòa án chỉ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự khi các đương sự thỏa thuận được toàn bộ các vấn đề phải giải quyết trong vụ án. Do đó, có thể thấy rằng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự chưa thực sự tôn trọng quyền định đoạt về việc giải quyết tranh chấp của đương sự, đặc biệt là không phù hợp với những tranh chấp kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài.

Thứ ba, Vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng theo khoản 13 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 là cơ sở pháp lý quan trọng để áp dụng các chế tài theo các điều 308, 310 và 312 của Luật này: Tạm ngừng thực hiện hợp đồng hoặc chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc chế tài hủy bỏ hợp đồng khi các bên trong hợp đồng không có thỏa thuận về điều kiện áp dụng ba chế tài này. Tuy nhiên, Bộ luật dân sự năm 1995, 2005, 2015 lại không quy định về vi phạm cơ bản hợp đồng; các văn bản dưới luật của Việt Nam hiện hành cũng không có quy định hướng dẫn về vấn đề này nên tạo ra những bất cập khi áp dụng.

Cụ thể, khi có hành vi vi phạm cơ bản hợp đồng, bên vi phạm phải gánh chịu hậu quả bất lợi có thể bị áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện, đình chỉ thực hiện hay hủy bỏ hợp đồng. Tuy nhiên, ba chế tài nêu trên có sự khác biệt cơ bản về hậu quả pháp lý, cụ thể: Khi hợp đồng bị tạm ngừng thực hiện thì hợp đồng vẫn có hiệu lực. Tuy nhiên, khi hợp đồng bị đình chỉ thực hiện hoặc hủy bỏ thì hợp đồng không còn hiệu lực (chấm dứt) từ thời điểm một bên nhận được thông báo đình chỉ (đối với đình chỉ thực hiện hợp đồng) hoặc hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết (đối với hủy bỏ hợp đồng) và các bên không phải tiếp tục thực hiện hợp đồng. Khi áp dụng các chế tài nêu trên, bên bị vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại (nếu có).

Luật Thương mại phân biệt vi phạm cơ bản và vi phạm không cơ bản bằng quy định tại Điều 293 là thừa và không cần thiết bởi vì các điều 308, 310 và 312 sẽ không được áp dụng với những vi phạm không cơ bản nghĩa vụ hợp đồng do quy định: trừ trường hợp miễn trách nhiệm hoặc xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc hủy bỏ hợp đồng, bên bị vi phạm chỉ được áp dụng các chế tài này khi bên kia vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng.

Trong khi đó Công ước Viên năm 1980 có những quy định về vi phạm cơ bản hợp đồng hay không thực hiện cơ bản hợp đồng là những văn bản đã thống nhất được nhiều mâu thuẫn giữa các hệ thống pháp luật khác nhau trên thế giới, đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các xung đột pháp luật trong thương mại quốc tế và thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển. Do vậy, việc sửa đổi, bổ sung quy định về vi phạm cơ bản trong các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về hoạt động kinh doanh, thương mại cần theo hướng tạo sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam và các văn bản quốc tế nêu trên, đặc biệt là Công ước Viên.

III. Một số kiến nghị, giải pháp nâng cao chất lượng công tác giải quyết loại vụ án kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài

Để từng bước khắc phục những hạn chế, bất cập và hoàn thành tốt công tác tương trợ tư pháp, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng kiến nghị Tòa án nhân dân tối cao tập trung chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện đồng bộ, có hiệu quả, chất lượng các giải pháp chủ yếu như sau:

- Phối hợp chặt chẽ với Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và các bộ, ngành liên quan trong việc trao đổi với các cơ quan có thẩm quyền nước ngoài về những vướng mắc, bất cập trong việc thực hiện các yêu cầu ủy thác tư pháp với Việt Nam để có hướng xử lý thích hợp nhằm hạn chế thời gian kéo dài giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài.

- Tòa án nhân dân tối cao thường xuyên tổ chức tập huấn, hội thảo trao đổi nghiệp vụ về áp dụng pháp luật, kinh nghiệm giải quyết các vụ án kinh doanh thương mại có yếu tố nước ngoài.

- Tăng cường công tác hướng dẫn, trao đổi nghiệp vụ, kiểm tra, đôn đốc thực hiện công tác ủy thác tư pháp ra nước ngoài và thực hiện yêu cầu ủy thác tư pháp của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài tại Tòa án các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Tòa án nhân dân cấp cao. Tiếp tục chỉ đạo triển khai thi hành Quyết định số 25/QĐ-TANDTC ngày 9/3/2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phê duyệt kế hoạch triển khai thực hiện Công ước tống đạt giấy tờ tại Tòa án nhân dân. Tổ chức tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ về công tác tương trợ tư pháp, tống đạt văn bản tố tụng ra nước ngoài theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Công ước tống đạt giấy tờ và Thông tư liên tịch số 12/2016 cho các Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao.

- Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác tương trợ tư pháp tại Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp cao; tăng cường cơ sở vật chất và kinh phí cho công tác tương trợ tư pháp.

Trên đây là bài tham luận về “Thực trạng giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng trong những năm gần đây (2016 -2018) và kiến nghị nâng cao chất lượng công tác giải quyết loại vụ án này”, nhằm đưa ra góc nhìn thực tiễn từ những kinh nghiệm giải quyết, xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng./.


Ý kiến bạn đọc

0 Bình luận

Ý kiến bình luận

Đổi mã xác nhận

Các tin khác

Lượt xem: 21
cdscv